VỀ NỘI DUNG CỦA QUYỂN: PHƯƠNG PHÁP LUẬN SÁNG TẠO VÀ ĐỔI MỚI
Chương 1 trình bày một số khái niệm cơ bản như phương pháp, phương pháp luận, sáng tạo, phạm vi áp dụng, vấn đề, tư duy sáng tạo, đổi mới, đổi mới hoàn toàn, phát minh, sáng chế, sở hữu trí tuệ… để bước đầu hình thành ngôn ngữ giao tiếp chung giữa người đọc và người viết.
Chương 2: Sáng tạo một cách tự nhiên điểm qua một số nghịch lý tồn tại đã lâu trong tư duy và hành động, cho thấy, kiểu giải quyết vấn đề và ra quyết định một cách tự nhiên: Phương pháp thử và sai, mặc dù đã từng đóng vai trò tích cực trong lịch sử tiến hóa và phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy, nó có rất nhiều nhược điểm.
Trả lời các câu hỏi PPLSTVĐM là gì? Tại sao? được trình bày trong Chương 3. Các nghịch lý trong lĩnh vực tư duy đã đến lúc chín muồi cần phải giải quyết. Nói cách khác, xuất hiện nhu cầu xã hội cần có PPLSTVĐM nhằm cải tiến, cao hơn nữa, thay thế phương pháp tự nhiên thử và sai vì các nhược điểm của nó càng ngày, càng trở nên không chấp nhận được.
Tổng quan các cách tiếp cận và kết quả đạt được trong lĩnh vực PPLSTVĐM, đặc biệt cách tiếp cận của Lý thuyết giải các bài toán sáng chế (TRIZ) để xây dựng PPLSTVĐM là nội dung của Chương 4.
Chương 5: Từ nhu cầu đến hành động và ngược lại trình bày các hiện tượng thuộc thế giới bên trong con người như các nhu cầu, xúc cảm, thói quen tự nguyện, tư duy và cho thấy, chúng có thể ảnh hưởng lên các hành động của cá nhân với mức độ đa dạng cao như thế nào. Đồng thời, Chương 5 cũng cho thấy tác động của các hiện tượng thuộc thế giới bên trong làm tư duy của chúng ta hoạt động rất chủ quan và các khả năng to lớn của tư duy mới được khai thác một cách không đáng kể.
Chương 6: Tư duy sáng tạo: Nhìn theo góc độ thông tin – tâm lý tập trung xem xét tư duy trong ngữ cảnh mô hình nhu cầu – hành động của Chương 5. Ở đây, tư duy được trình bày như là quá trình thu thập, truyền, biến đổi thông tin thành tri thức với sự tham gia của các hiện tượng tâm lý, đồng thời, chỉ ra các hiện tượng tâm lý có những mặt mạnh và có những mặt yếu. Từ đây, có những lời khuyên giúp bạn đọc tính đến và sử dụng các hiện tượng tâm lý của chính mình trong các phạm vi áp dụng thích hợp.
Chương 7: Điều khiển học: Điều khiển hành động và thế giới bên trong con người sáng tạo dành bàn về sự cần thiết, các điều kiện, khả năng, biện pháp điều khiển, tạo môi trường điều khiển và tự điều khiển các hiện tượng thuộc thế giới bên trong mỗi người. Sự điều khiển này nhằm mục đích giúp khai thác tốt những khả năng to lớn của tư duy mỗi người trong các hoạt động:
1. Phản ánh chính xác hiện thực khách quan như hiện thực khách quan vốn có, ra các quyết định hành động đúng và thực hiện những hành động đổi mới đó bằng những xúc cảm thích hợp.
2. Làm chủ các hiện tượng tâm lý để có được tâm hồn thanh thản, lạc quan yêu đời, tự tin, dễ dàng thích nghi với các tình huống của cuộc đời và giàu lòng nhân ái, vị tha.
3. Tự rèn luyện và giúp những người khác rèn luyện trở thành các nhân cách sáng tạo.
Chương 8: Tư duy lôgích dành những phần đầu tóm tắt các quy luật của lôgích hình thức, ba hình thức tư duy như khái niệm, phán đoán và suy luận cùng các quy tắc của chúng. Phần cuối cùng của Chương 8 trình bày một số áp dụng kiến thức của lôgích hình thức trong suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định.
Chương 9: Tư duy biện chứng, tương tự như Chương 8, cũng dành những phần đầu để trình bày tóm tắt các kiến thức của phép biện chứng duy vật, bao gồm các nguyên lý, quy luật, các cặp phạm trù. Phần tiếp theo nói về mối quan hệ giữa phát triển và sáng tạo, các loại mâu thuẫn có trong giải quyết vấn đề và ra quyết định như mâu thuẫn hành chính, mâu thuẫn kỹ thuật, mâu thuẫn vật lý, cùng phương hướng giải quyết chúng. Phần cuối của chương sẽ cung cấp một số minh họa về tư duy biện chứng.
Chương 10: Tư duy hệ thống trình bày những khái niệm cơ bản của khoa học hệ thống như hệ thống, yếu tố, mối liên kết, tính hệ thống, thang bậc hệ thống; các điểm quan trọng rút ra từ khoa học hệ thống để xây dựng tư duy hệ thống; các tiêu chuẩn xác định như thế nào là lời giải, quyết định tốt nhìn theo quan điểm hệ thống; tính ì hệ thống cùng các cách khắc phục.
Chương 11: Nội dung, ý nghĩa và các ích lợi của các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản.
Trong mục một “Mở đầu”, bạn đọc sẽ tìm thấy những chi tiết về lịch sử ra đời và cách phát hiện các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản. Chúng được G.S. Altshuller tìm ra, trước hết, dựa trên việc phân tích một số lượng rất lớn các thông tin sáng chế thuộc rất nhiều lĩnh vực kỹ thuật. Các sáng chế này được chọn lọc một cách tin cậy theo các tiêu chuẩn đánh giá sáng tạo. Sau đó, các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản tìm ra còn được so sánh, kiểm nghiệm với các lĩnh vực không phải là kỹ thuật để cuối cùng có được những thủ thuật khách quan, ổn định, tin cậy nhất, với phạm vi áp dụng rộng nhất có thể có.
Mục hai “Lời phát biểu, các thí dụ minh họa và một số nhận xét về các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản” giúp bạn đọc làm quen với nội dung chi tiết các lời phát biểu của 40 thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản, không chỉ thông qua các từ ngữ phát biểu chúng, mà còn thông qua các thí dụ gần gũi, dễ hiểu. Đối với mỗi thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản, người viết đều cố gắng gợi ý sơ bộ những điểm bạn đọc cần lưu ý dưới dạng các nhận xét. Trên thực tế, mục hai chính là quyển sách “Sổ tay sáng tạo: Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản” (xem phần Tài liệu tham khảo) được người viết chỉnh lý, sắp xếp lại không nhiều.
Mục ba “Các ích lợi của các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản nhìn dưới góc độ các kiến thức cơ sở của PPLSTVĐM” giúp bạn đọc thấy tổng quan các ích lợi và hiểu nội dung các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản sâu, rộng, khái quát hơn so với ngữ nghĩa thông dụng của các từ ngữ được giải thích trong từ điển, mà những từ ngữ đó có trong lời phát biểu các thủ thuật. Bạn đọc có thể thấy các công dụng của các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản như: giúp trang bị hệ thống các cách xem xét (cách nhìn) sự vật; giúp lý giải một cách lôgích các giải pháp sáng tạo đã có; dự báo khuynh hướng phát triển sự vật; phát các ý tưởng sáng tạo; phát hiện các bài toán và xác định bài toán cần giải; khắc phục tính ì tâm lý; phát hiện các nguồn dự trữ có sẵn trong hệ thống để sử dụng…
Mục bốn “Tổng kết chương” có nhiệm vụ tóm tắt chương, rút ra những ý chính dưới dạng các kết luận được mở rộng và nêu những ý liên quan đến việc luyện tập sử dụng các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản còn chưa được đề cập trong quyển bốn này. Những ý đó sẽ được trình bày trong quyển năm “Các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản: Phần 2”.
“Chương 12: Áp dụng các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản”.
Trong mục một “12.1 Lý giải một cách lôgích các giải pháp sáng tạo đã có”, người viết trình bày cách tìm các thủ thuật có trong giải pháp sáng tạo cho trước, phân tích và sắp xếp chúng theo thứ tự nhất định, dựa trên lôgích nhu cầu–hệ thống.
Mục hai “12.2 Giải quyết các loại mâu thuẫn trong tư duy sáng tạo” tập trung trình bày “Bảng các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản dùng để giải quyết các mâu thuẫn kỹ thuật”, “Các biến đổi mẫu (các nguyên tắc phân chia các mặt đối lập) dùng để giải quyết các mâu thuẫn vật lý”, các khả năng có thể và các kỹ năng sử dụng chúng. Cũng trong mục này, người viết phác họa một số nét cơ bản của “Từ điển các công cụ dùng để giải quyết các mâu thuẫn vật lý” sẽ được thành lập trong tương lai. Từ điển sẽ giúp một người sử dụng sức mạnh của tri thức và các công cụ sáng tạo, đổi mới của toàn nhân loại.
Mục ba “12.3 Chương trình rút gọn dùng để giải quyết vấn đề và ra quyết định” tổng hợp và tổ chức lại các ý chính, được trình bày từ quyển một đến nay thành một chương trình định hướng, gồm nhiều bước, mang tính kế hoạch để thực hiện quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định một cách tối ưu, tránh thử và sai. Các ví dụ lấy từ các lĩnh vực khác nhau minh họa việc áp dụng “Chương trình rút gọn” giải các bài toán cũng được trình bày chi tiết trong mục ba này.
Mục bốn (12.4) được dành cho “Tổng kết hệ thống các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản”. Nói cách khác, mục bốn giúp bạn có cái nhìn tổng quát sau khi đã đọc quyển bốn và quyển năm. Trong đó, người viết đặc biệt nhấn mạnh các ích lợi (công dụng) của các thủ thuật.
Cuối cùng, Phụ lục cung cấp nhiều thí dụ đa dạng (Phụ lục 1) lấy từ những lĩnh vực khác nhau, các chuyện vui (Phụ lục 2), các tranh vui (Phụ lục 3). Bạn đọc có thể dùng chúng như các bài tập rèn luyện để có được các kỹ năng áp dụng các thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản.
“Chương 13: Các phương pháp sáng tạo của TRIZ và các phương pháp sáng tạo không phải của TRIZ”.
Trong mục “13.1 Mở đầu”, người viết sẽ trình bày chi tiết khái niệm “phương pháp sáng tạo” theo nghĩa chung, rộng nhất và phân tích các cách tiếp cận, cơ sở kiến thức khoa học dẫn đến các phương pháp sáng tạo hiện có trên thế giới. Người viết nhấn mạnh những khác biệt giữa các phương pháp sáng tạo của TRIZ và các phương pháp sáng tạo không phải của TRIZ. Từ đây, việc trình bày các phương pháp sáng tạo được tiến hành tương ứng theo hai mục riêng rẽ cho các phương pháp sáng tạo của TRIZ và cho các phương pháp sáng tạo không phải của TRIZ.
Mục “13.2 Tổng quan các phương pháp sáng tạo của TRIZ” điểm lại những gì liên quan đến TRIZ đã trình bày trong các quyển sách trước và phác thảo những gì sẽ trình bày trong các quyển sách tiếp theo.
Mục “13.3 Các phương pháp sáng tạo không phải của TRIZ” sẽ giới thiệu với bạn đọc không ít các phương pháp sáng tạo khác không thuộc TRIZ, cũng thường được dùng trong tư duy sáng tạo (quá trình suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định). Người viết cố gắng trình bày các phương pháp sáng tạo không phải của TRIZ ở mức độ chi tiết nhất có thể được, cho phép bởi các điều kiện và khả năng của người viết. Đồng thời, đối với mỗi phương pháp hoặc nhóm các phương pháp không phải của TRIZ, người viết cũng nêu những nhận xét chủ quan của mình như là những ý kiến để bạn đọc tham khảo và tự đánh giá thêm.
Mục “13.4 Tổng kết chương” tóm tắt có bình luận những gì đã trình bày, nêu một số kết luận, lời khuyên dành cho bạn đọc và phác họa một số dự báo liên quan đến sự phát triển các phương pháp sáng tạo trong tương lai.
Chương 14. các quy luật phát triển hệ thống
Trong mục 14.1, người viết đề cập khái niệm quy luật và nêu một số điểm cần chú ý về quy luật trong việc hiểu và áp dụng các quy luật nói chung. Điều này cần thiết vì, khi suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định trên thực tế, người giải không chỉ sử dụng các quy luật phát triển hệ thống được trình bày trong quyển bảy này, mà còn phải sử dụng các quy luật khác, kể cả các quy luật thuộc các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Sự đa dạng của các quy luật đòi hỏi người sử dụng phải có sự đa dạng về cách hiểu, cách áp dụng tương ứng. Không chú ý đến điểm này, người sử dụng quy luật có thể dùng các quy luật ra ngoài phạm vi áp dụng của chúng, dẫn đến sự trả giá.
Mục 14.2 Các quy luật phát triển hệ thống (các quy luật sáng tạo và đổi mới) trình bày lời phát biểu, diễn giải nội dung có kèm theo các thí dụ minh họa cho từng quy luật phát triển hệ thống. Đồng thời, người viết cũng trình bày các “phản thí dụ”, hiểu theo nghĩa, nếu không tuân thủ các quy luật phát triển hệ thống, hệ thống có trong các thí dụ đó có thể phải trả giá đắt như thế nào.
Các quy luật phát triển hệ thống không đứng độc lập mà chúng có thể tạo tiền đề, hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Trong một số trường hợp, chúng có thể tạo mâu thuẫn của sự phát triển cần phải giải quyết. Các mối liên hệ nói trên giữa các quy luật phát triển hệ thống được phân tích trong mục 14.3 Hệ thống các quy luật phát triển hệ thống.
Tương tự như mục 14.3 nói về các mối liên kết, mục 14.4 đề cập đến các mối liên kết khác: Các mối liên kết giữa các quy luật phát triển hệ thống và các phương pháp, thủ thuật (nguyên tắc) sáng tạo cơ bản.
Mục 14.5 Thay cho tổng kết: Các ích lợi (công dụng) của hệ thống các quy luật phát triển hệ thống phác họa tổng quan các bước cần làm nếu định áp dụng các quy luật phát triển hệ thống một cách bài bản vào một hệ thực tế được chọn, chứ không phải đi giải các bài toán lẻ tẻ, kiểu “rách đâu vá đó” một cách bị động.
“Chương 15: Hệ thống các chuẩn dùng để giải các bài toán sáng chế”
Mục 15.1 Vài nét về việc sử dụng ký hiệu trong khoa học giúp bạn đọc thấy những ích lợi của việc sử dụng ký hiệu, tính tất yếu của việc hình thức hóa ngôn ngữ trong khoa học, khi khoa học đạt đến một “độ chín” nhất định.
Mục 15.2 Phân tích chất-trường (phân tích vepol) và khái niệm chuẩn trong TRIZ giới thiệu với bạn đọc các khái niệm, đồng thời là những công cụ mới như vepol, phân tích vepol và chuẩn. Vepol được coi là hệ thống kỹ thuật nhỏ nhất gồm hai chất và một trường. Sử dụng các ký hiệu trong biểu diễn vepol và phân tích vepol giúp G.S. Altshuller và các cộng sự thấy được sự giống nhau về cách giải các bài toán thuộc các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau, nhờ vậy, các lời giải chuẩn (các chuẩn) được dần phát hiện ra. Lúc này, trên thực tế, nếu người giải gặp bài toán chuẩn, người giải có thể sử dụng ngay các chuẩn để phát các ý tưởng giải bài toán, tiết kiệm nhiều thời gian và công sức.
Đến nay, số lượng chuẩn được tìm ra là 76. Mục 15.3 Hệ thống các chuẩn: Lời phát biểu, diễn giải và các thí dụ được dành riêng để trình bày toàn bộ 76 chuẩn. Các chuẩn được phân thành năm loại, mỗi loại phân thành các nhóm, mỗi nhóm chứa một số lượng chuẩn nhất định. Sự phân loại nói trên có cơ sở là các quy luật phát triển hệ thống (xem quyển bảy “Các quy luật sáng tạo và đổi mới”).
Mục 15.4 Một số điểm cần lưu ý về hệ thống các chuẩn giúp bạn đọc hiểu hơn về các chuẩn và có được một số lời khuyên về cách sử dụng các chuẩn.
“Chương 16: Algôrit giải các bài toán sáng chế (ARIZ)”.
Mục 16.1 Algôrit và Algôrit giải các bài toán sáng chế (ARIZ) là gì? giới thiệu với bạn đọc hai khái niệm “Algôrit” và “ARIZ”. Trong đó, người viết nhấn mạnh các nghĩa hẹp, rộng của khái niệm algôrit và lý do khái niệm algôrit được đưa vào TRIZ để trở thành ARIZ: Chương trình lôgích mang tính định hướng, được kế hoạch hóa, gồm nhiều bước nhằm tổ chức hợp lý và có hiệu quả quá trình suy nghĩ giải các bài toán sáng chế.
ARIZ đầu tiên được đưa ra năm 1959 gọi là ARIZ-59. Kể từ đó ARIZ được cải tiến trở thành các phiên bản, biến thể mới làm việc ngày càng tốt hơn. Người viết chọn ra và trình bày trong quyển sách này hai phiên bản của ARIZ là ARIZ-85 và ARIZ-85C. Đây là hai ARIZ thuộc loại mới nhất được G.S. Altshuller cùng một số học trò cộng tác xây dựng và hoàn thiện. Đây cũng là hai ARIZ cuối cùng của G.S. Altshuller để lại trước khi mất. Văn bản ARIZ-85C cùng các lời giải thích và lưu ý được trình bày trong mục 16.2
ARIZ-85 ra đời trước ARIZ-85C nhưng có những ưu điểm thích hợp với một số lượng nhất định những người giải các bài toán sáng chế. Trong ý nghĩa như vậy, người viết giới thiệu cả ARIZ-85 (xem mục 16.3).
Trong mục 16.4 ARIZ‑85 và ARIZ‑85C: Những điều cần lưu ý thêm, người viết so sánh ARIZ‑85 và ARIZ‑85C với nhau và cho những nhận xét về việc hiểu và ý nghĩa của nhiều phần trong các ARIZ này.
Mục 16.5 dành nói về tầm quan trọng, sự cần thiết, các ích lợi của việc áp dụng các hiệu ứng, hiện tượng vật lý nói riêng, các hiệu ứng khoa học nói chung trong ARIZ.
Mục 16.6 Các thí dụ sử dụng ARIZ-85C cung cấp cho bạn đọc một số bài toán sáng chế và lời giải của chúng theo ARIZ-85C. Mục này giúp bạn đọc hiểu hơn ý nghĩa, công dụng của từng bước trong ARIZ-85C và bước đầu có được những kỹ năng sử dụng cần thiết.